$type=ticker$count=12$cols=4$cate=0

Lois Gibbs và hiệp hội chủ nhà Love Canal

Lois Gibbs và hiệp hội chủ nhà Love Canal

Phương Uyên (#XHDS) Lois Gibbs từng là công dân của Love Canal, vùng cao nguyên New York. Năm 1978, bà phát hiện ra rằng gia đình mình và hàng xóm đang sống trên một bãi chứa chất thải hóa học khổng lồ. 

Phát hiện này khiến bà bị sốc và nó thúc đẩy bà dẫn dắt cộng đồng của mình trong cuộc đấu tranh kéo dài 3 năm để bảo vệ họ khỏi những tác hại của chất độc hóa học . Trong cuộc chiến đó, Lois nhận thấy rằng sẽ không có một tổ chức địa phương hay quốc gia nào có thể cung cấp cho họ những lời khuyên mang tính hữu ích! 


Bà và những người đồng sự của mình đã phải tự phát triển những chiến lược, các phương pháp giáo dục và tổ chức cộng đồng cũng như đưa ra các đánh giá các tác động của chất thải hóa học đối với sức khỏe của họ. Đồng thời đề ra các yêu cầu về chính sách đối với công ty và chính phủ trong việc xả thải. Dưới sự lãnh đạo của bà, 900 gia đình tại Love Canal đã được tái định cư ở vùng đất mới. 

GIBBS - Tôi đã chuyển đến Love Canal cùng với gia đình, và tôi hoàn toàn yêu thích khu phố này, nó thực sự rất đẹp. Tôi tới đó với một giấc mơ Mỹ, còn chồng tôi làm các công việc liên quan đến hóa học cho công ty Goodyear Chemical. Con trai tôi, hoàn toàn khỏe mạnh trước khi chúng tôi chuyển đến, nhưng sau một thời gian ngắn, nó đã gặp những vấn đề về sức khỏe . Đầu tiên là bệnh suyễn và sau đó nó chuyển sang động kinh, rồi đến vấn đề đường tiết niệu, tiếp tục là một vấn đề về gan, đến mức tôi đã phải hỏi bác sĩ nhi khoa,:“Chuyện gì đang xảy ra với con trai chúng tôi ? Chắc chắn có điều gì đó không đúng ở đây !”. 

Rồi tôi sinh đứa con thứ hai, Melissa, chỉ nặng 2,7kg. Khi Michael được 7-14 tuổi, sức khỏe của nó nhanh chóng đi xuống, và cháu nó đã mắc một căn bệnh hiếm về máu và tôi không biết nguyên nhân vì sao ? 

Tháng 4 năm 1978 – một nhà báo làm việc cho tờ Niagara Gazette, Michael Brown đã có một loạt bài viết về vấn đề các chất thải nguy hại ở thác Niagara, trong đó bao gồm cả bãi chứa Love Canal. 

GIBBS – Một ngày, tôi đọc một tờ báo, theo đó, Michael Brown, đã viết một câu chuyện về các địa điểm xử lý chất thải độc hại ở thác Niagara, đặc biệt là tại Love Canal, nằm giữa phố 97 và 99. Khi ấy tôi đã thực sự không quan tâm lắm, tuy nhiên điều tôi không hề nghĩ tới là địa điểm trên chỉ cách nhà tôi có một vài dãy phố 

Những bài báo sau đó có đề cập tới việc xác định chu vi của bãi đổ chất thải và tôi đã phải thốt lên: “Ôi chúa ơi, đây là điều đáng sợ !” 

Dần dần tôi hiểu ra, đó chính là nguyên nhân chính khiến các con tôi bị bệnh, tôi đã đưa những bài báo đó cho anh rể - một nhà sinh học và hỏi: "Wayne, điều này có nghĩa là gì?". 

Câu trả lời khiến tôi bị sốc: "Điều đó có nghĩa là nếu em tiếp xúc với những hóa chất này, em sẽ mất hàng ngàn tế bào não hàng ngày". 

"Anh đang nói về cái gì vậy?" 

Và anh ấy tiếp tục giải thích về một số trong số các chất này là chất độc thần kinh và một số trong đó là, bạn biết đấy, benzen và các thứ tệ hại như thế. 

Cuối tháng 4 năm 1978: Các Ủy viên Y tế của Tiểu bang New York xác nhận rằng một mối nguy hiểm sức khoẻ cộng đồng tồn tại ở Love Canal. Ủy Viên yêu cầu Sở Y Tế Hạt Niagara loại bỏ các hóa chất bị phơi nhiễm ra khỏi khu vực và lắp hàng rào xung quanh khu vực. Lois Gibbs, bắt đầu quá trình vận động cư dân địa phương trình một thỉnh nguyện thư về việc cách ly khu bãi đổ chất thải và đề nghị đóng cửa trường học ở phố 99. 

GIBBS - Khi tôi tìm cách liên hệ với Michael Brown để cố gắng có thêm thông tin về việc này; ông đã chỉ tôi đến Calspan - một công ty tư vấn độc lập ở Buffalo, New York. Họ từngtiến hành một nghiên cứu về Love Canal nhằm xác định những gì đã xảy ra trong khu vực và phát hiện ra rằng môi trường ở Love Canal là vô cùng độc hại và cộng đồng của chúng tôi đang ở trong một tình huống nguy hiểm. 

Trong báo cáo của họ có nêu một điểm rất đáng chú ý, theo đó, nó chỉ không ảnh hưởng tới những nam giới nặng 160 pounds, tuy nhiên chúng tôi lại có một cộng đồng rất trẻ, gồm nhiều phụ nữ mang thai và trẻ nhỏ. 

Ngoài ra, họ cũng có những gợi ý trong vấn đề giải quyết tình thế như tránh ở lâu dưới tầng hầm nhà hay đưa quạt vào để đẩy khí độc ra, đồng thời không nên để trẻ nhỏ chơi ngoài sân… 

Lúc đó,tôi đã nghĩ: Chúng tôi sống ở đó, làm ơn hãy nói về một điều gì đó thực tiễn hơn là những giải pháp ngắn hạn!. 

Cũng theo báo cáo này, họ đã biết về sự nguy hại tại Love Canal từ năm 1976. Điều này khiến tôi thực sự tức giận. Làm sao họ đã biết về những điều này từ 2 năm trước đây còn chúng tôi thì không ? 

Chúng tôi đã ngắm nhìn con cái chúng tôi chơi ngay trên bãi chất thải khổng lồ, rõ ràng là, nếu biết trước những điều này, chúng tôi đã có thể chuyển đi. Rồi tôi chuyển sự giận dữ của mình tới các cấp chính quyền. Tại sao họ biết những chuyện này từ trước nhưng lại không đưa ra một lời cảnh báo nào? 

Tôi đã thực sự hy vọng rằng sẽ có ai đó tới và nói cho tôi biết chúng tôi phải làm gì, nhưng không ai tới cả. Vì vậy, tôi đã quyết định làm một đơn kiến nghị và yêu cầu đóng cửa Trường ở số đường 99 cũng như đề ra những biện pháp cách ly con cái chúng tôi khỏi những nơi tồn tại hóa chất nguy hiểm. 

Ngày 19 tháng 5 năm 1978 –Sở Y tế Tiểu bang New York gặp người dân lần đầu tiên để giải thích những nguy cơ tiềm ẩn khi tiếp xúc với các hóa chất độc hại trong và quanh nhà. 

GIBBS - Ban đầu, tôi đã không thể làm gì khác ngoài khóc bởi đó là điều duy nhất xảy ra khi bạn cảm thấy bất lực. Sau đó tôi tìm đến hội đồng trường học phố 99 và nói với họ: “Hãy chuyển con tôi đi, hàng ngày nó đang phải chơi đùa bên trên bể chất thải và nó đang bị bệnh”. Tuy nhiên câu trả lời duy nhất tôi nhận được là: “Nếu con bà có thể chuyển trường, thì chúng tôi cũng phải chuyển cả 407 đứa bé nữa, và chúng tôi không thể làm điều đó chỉ vì một bà nội trợ đang hoảng sợ. Nếu con bà bị bệnh thì hãy về nhà và chăm sóc nó, tại sao lại tới đây và làm phiền chúng tôi?” 

Bỗng dưng, tôi trở thành người xấu! 

Điều đó khiến cho tôi nổi điên, làm ơn đừng bao giờ nói với tôi rằng tôi là một bà mẹ tồi tệ! 

Ngày 2 tháng 8 năm 1978 - Một nhóm nhỏ cư dân lái xe đến Albany, New York để trình bày đơn yêu cầu đóng Trường Đường Phố số 99 tới Sở Y tế New York. Cũng trong ngày hôm đó - Ủy viên Y tế bang New York tuyên bố tình trạng khẩn cấp tại Love Canal và ra lệnh đóng cửa Trường ở Phố số 99 đồng thời một kế hoạch dọn sạch sẽ được thực hiện ngay lập tức. Ông cũng khuyến cáo rằng phụ nữ mang thai và trẻ em dưới hai tuổi sống trong khu vực cần phải rời đi. 

GIBBS – Ngày hôm đó, sau khi thu thập hàng trăm chữ ký kiến nghị, chúng tôi đã lái xe suốt 5 giờ đồng hồ để tới Albany (thủ phủ của bang) để yêu cầu nhà nước đóng cửa Trường ở Phố số 99. Khi tới đó, chúng tôi gặp một người bạn của chồng tôi, và ông ta dẫn chúng tôi tới một cuộc họp báo, nơi mà Sở Y Tế New York đang tuyên bố tình trạng khẩn cấp tại Love Canal và đề nghị cho di dời trẻ em dưới hai tuổi và phụ nữ mang thai. Đồng thời yêu cầu dọn dẹp khu vực ô nhiễm và cam kết các gia đình có thể trở lại sau khi khu vực đã được dọn sạch. 

Tôi lái xe về nhà ngay trong đêm hôm ấy và bắt gặp cuộc họp mặt của những người hàng xóm. Họ đã gọi tôi tới ngay khi thấy tôi. Nhận ra anh rể mình cũng ở đó, tôi đã xin anh một lời khuyên và câu trả lời là tôi nên kêu gọi một cuộc họp. 

Tại cuộc họp đó, cộng đồng đã bầu tôi là của Hiệp hội Chủ nhà Love Canal. Đây là một gánh nặng rất lớn, bởi tôi luôn suy nghĩ rằng công việc của mình là trở thành một bà nội trợ chứ không phải là một nhà lãnh đạo cộng đồng. 

Và giải pháp của tôi làbiến hiệp hội trở thành tổ chức dân chủ nhất trên trái đất, với 50 đại diện của những khu phố và sẽ không có quyết định nào được đưa ra trừ khi đa số đồng ý. 


Ngày 7 tháng 8 năm 1978 - Tổng thống Hoa Kỳ tuyên bố tình trạng khẩn cấp của Khu phố Love Canal và cung cấp tài chính để tái định cư 239 gia đình sống trong hai dãy nhà đầu tiên bao quanh khu vực bãi chôn lấp. Các gia đình sống trong những khu còn lại, bao gồm cả gia đình của Lois Gibbs, được nói rằng họ không có nguy cơ. 

GIBBS -Câu chuyện càng trở nên sống động khi mà các chương trình truyền hình như Morning America hay Today show luôn cập nhật tin tức hàng ngày, khiến cho sự hiểu biết của chúng ta được mở rộng, điều đó càng như một cú đánh mạnh vào nền tri thức quốc gia trong các vấn để xử lý chất thải nguy hại. 

Chúng tôi có một điều thuận tiện, đó là thời điểm bầu cử, vì vậy, các quan chức chính quyền đã thực hiện rất nhiều các cuộc khảo sát, không chỉ ở Love Canal, mà còn cả ở những nơi khác. Rồi họ phát hiện ra hàng trăm địa điểm mới, điều đó đồng nghĩa với một nguồn tài chính khổng lồ cần thiết để dọn dẹp tất cả, dẫn đến một sự lúng túng của những nhà lập pháp từ trung ương tới địa phương. 

Dù sao, quyết định di dời 239 gia đình đầu tiên đã được đưa ra, đồng thời họ dựng một hàng rào xanh thân thiện với môi trường - quanh khu vực sơ tán. Tuy nhiên chúng tôi không nghĩ rằng hàng rào đó sẽ thực sự tách biệt được khu vực ô nhiễm. 

Đối với những người dân không được di tản, họ đều biết rằng mình nên rời khỏi khu vực, nhưng họ không có nguồn lực để thực hiện việc đó. Chồng tôi kiếm được 10.000 đô la/năm, và chúng tôi còn phải thanh toán khoản thế chấp ngân hàng. Vì vậy, tôi không thể chỉ cần đi thuê một căn hộ ở nơi nào đó, hoặc một căn phòng khách sạn. Ngoài ra,chi phí khám bệnh cho các con tôi tốn 90 đô la/tuần, ra khỏi nhà là phải cần đến tiền, bởi vậy, đây là vấn đề về tài chính. 

Ngày 8 tháng 2 năm 1979 - Có Lệnh di tản lần thứ hai do Bộ Y tế Bang New York cấp. Lệnh này yêu cầu phụ nữ mang thai và trẻ em dưới 2 tuổi thuộc khu vực bên ngoài khu vực của 239 gia đình đã di tản từ trước tiếp tục di tản. Người dân cũng được yêu cầu hạn chế ra ngoài đường và xuống hầm nhà. 

GIBBS -Thử tưởng tượng trong một khoảnh khắc rằng, khi bạn được yêu cầu không đi vào tầng hầm nhà mình, không đi ra sân của bạn, không được trồng rau trong vườn và con cái bạn không thể đi học trong khu phố bởi vì nó không an toàn, nhưng bằng một cách nào đó, nó lại trở nên an toàn để bạn sống ở đó, hay “Thật tuyệt khi sống ở Love Canal”. Điều đó thật là điên rồ, bởi vậy, chúng tôi tiếp tục chống lại điều đó. 

Chúng tôi bắt đầu tổ chức cộng đồng bên ngoài khu hàng rào lại, đồng thời tiến hành rất nhiều những cuộc khảo sát cũng như thí nghiệm khoa học và đã tìm ra một tỷ lệ cao bất thường với 56% trẻ em sinh ra ở Love Canal có những khuyết tật bẩm sinh, đó là chưa kể đến 239 gia đình đầu tiên đã được di dời, và trong 22 ca sinh nở mới, chỉ có 4 đứa trẻ sinh ra khỏe mạnh. 

Khi chúng tôi đặt nó lên bản đồ, chúng tôi phát hiện ra dường như có những nơi tập trung nhất định của những vấn đề đó. Sau khi nói chuyện với những người trước đây sống ở Love Canal, chúng tôi đã phát hiện ra lượng hóa chất nhiều hơn so với tính toán của chính quyền. Vì thế chúng tôi tiếp tục yêu cầu Sở Y tế xem xét điều đó, cũng như những nơi khác, câu trả lời chúng tôi nhận được luôn là: “Không, chẳng có gì để xem xét ở đó cả. Chúng tôi không tin rằng có nguy cơ sức khoẻ con người ở đây. Chúng tôi tin rằng nó chỉ nằm trong hàng rào. Lý thuyết của bạn không đáng tin chút nào. Đó là dữ liệu vô dụng của những bà nội trợ”. 
Những đứa trẻ tại khu vực Love Canal đối diện với bệnh tật và cái chết
Bằng việc tiếp tục đẩy mạnh phong trào, cuối cùng chúng tôi cũng có được sự giúp đỡ nghiên cứu của một cơ quan Chăm sóc sức khỏe và những gì họ tìm được cũng chính xác như những gì chúng tôi đã làm. Tuy nhiên, họ lại ngang nhiên tuyên bố: “Chúng tôi không nghĩ những điều đó có liên quan đến Love Canal…” 

Bạn biết không, ở thời điểm đó, chúng tôi đã nhận ra đó không phải là một vấn đề khoa học, chúng tôi đã chỉ ra cách các hóa chất bị rò rỉ ra bên ngoài và có bằng chứng khá rõ ràng về mối liên hệ giữa những hóa chất đó với những vấn đề y tế mà cộng đồng gặp phải. Tuy nhiên họ (chính quyền) lại không muốn giải quyết bởi chi phí cho việc đó là rất lớn. Nếu họ làm gì đó ở Love Canal, thì họ cũng sẽ phải làm điều đó ở hàng trăm địa điểm khác trên khắp cả nước. Do đó chúng tôi phải biến nó thành một vấn đề chính trị. 

Tuy nhiên, Vấn đề là, chính phủ cũng có nỗi lo riêng, đó là có một tiền lệ không tốt . 

Ngày 8 tháng 9 năm 1979 - 300 gia đình khác bị tạm thời di chuyển do hậu quả của các vấn đề sức khoẻ do các hoá chất gây ra từ các hoạt động dọn sạch. 

Ngày 17 tháng 5 năm 1980 - Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) công bố kết quả của các xét nghiệm máu cho thấy những tổn thương nhiễm sắc thể ở người dân Love Canal. Chúng tôi được nói rằng điều này có nghĩa là có nguy cơ cao về ung thư, các vấn đề sinh sản và thiệt hại di truyền. 

GIBBS - Vào tháng 5 năm 1980, EPA đã thực hiện một nghiên cứu thí điểm về sự phá vỡ nhiễm sắc thể ở một số ít người dân. Bộ Tư pháp cũng đã tiến hành buổi nói chuyện với 36 ngườitrong văn phòng của Hiệp hội chủ nhà Love Canal . Lúc đấy, chúng tôi nghi ngờ rằng họ sẽ cung cấp cho chúng tôi những thông tin không chính xác. Trong khi, điều chúng tôi cần biết là những kết quả cụ thể của những xét nghiệm đó là gì, và nó ảnh hưởng tới con người như thế nào ? Tuy nhiên họ đã không làm điều đó. 

Một buổi sáng, khi chúng tôi đọc một bài báo với tựa đề: “Sự phá vỡ của nhiễm sắc thể của của cư dân Love Canal”. Nó có nghĩa là các gia đình trong cộng đồng của chúng tôi có nguy cơ cao về sinh sản và mắc bệnh ung thư. Không những thế, nó còn di truyền sang cả thế hệ con cháu. Và chúng tôi hiểu rằng sự nguy hại không chỉ đối với chúng tôi mà còn với cả con cái của chúng tôi thậm chí là cả thế hệ sau đó nữa. Khi bạn nói về việc những tác hại đối với chúng tôi ? OK thôi. Nhưng khi bạn nói về các thế hệ con cháu chúng tôi, những đứa cháu mà thậm chí chúng tôi chưa thể nhìn thấy chúng, thì bạn đã vượt qua giới hạn. 

Ngày 19 tháng 5 năm 1980 - Các cư dân Love Canal, sợ hãi bởi tin tức về sự nhiễm độc nhiễm sắc thể và tức giận vì thiếu hành động của chính phủ để di chuyển gia đình họ khỏi nguy cơ sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng khi sống gần kênh Love, họ đã "giam giữ" Đại diện của chính quyền và các gia đình Love Canal yêu cầu Nhà Trắng phải di chuyển tất cả các gia đình vào thứ Tư (21 tháng 5) vào buổi trưa. 

GIBBS - Ngay sáng ngày hôm đó, rất nhiều người đã tìm đến văn phòng của Hiệp hội chủ nhà Love Canal và nói với tôi rằng: Chúng ta cần phải làm gì ? 

Có một điều tôi đã học được từ rất sớm rằng, khi mọi người cùng tức giận thì mục tiêu đầu tiên họ nhắm vào sẽ là người lãnh đạo, do vậy, việc tôi cần làm là tìm kiếm một mục tiêu khác, đó chính là tìm gặp 2 đại diện của EPA, (vốn đang ở trong một khách sạn gần đấy) và yêu cầu họ giải thích. 

Khi những đại diện của EPA tới nơi, thì sự việc đã vượt qua tầm kiểm soát, người dân tức giận đã nói với họ rằng: “Nếu như đây là một nơi an toàn cho chúng tôi sống, thì nó cũng sẽ an toàn với các ông, và chúng tôi sẽ giữ các ông ở đây cho tới khi Tổng thống Carter làm điều đúng đắn”. 

Và bạn có thể hiểu nó giống như là một cuộc bắt giữ! 

Chỉ một thời gian ngắn sau đó, FBI đã có mặt, họ đưa ra một tối hậu thư, rằng họ sẽ quay lại vào trưa hôm sau, và chúng tôi sẽ phải thả những con tin ra hoặc họ sẽ xông vào và chúng tôi sẽ mất tất cả. 

Sau cùng, chúng tôi phải nhượng bộ bởi vì tôi biết rằng chúng tôi đã sai khi làm điều đó. Và tôi đã không phải đi tù. Một trong hai con tin ngày hôm đó đã gửi cho tôi một bức điện tín với nội dung đại khái như sau: “Lois thân mến, tôi hi vọng bạn sẽ giành chiến thắng trong cuộc đấu tranh này và cảm ơn bạn về món bánh yến mạch”. 

Tôi đã rất biết ơn về điều đó bởi nếu như tôi phải đối mặt với một phiên tòa, thì đó sẽ là bằng chứng cho thấy các con tin không hề bị tổn thương hay căng thẳng về mặt tâm lý. 

Ngày 21 tháng 5 năm 1980 –Nhà Trắng đồng ý di tản tất cả các gia đình Love Canal tạm thời cho đến khi các quỹ tái định cư vĩnh viễn có thể được bảo đảm. 

GIBBS - Đó là một giai đoạn mà truyền thông trong nước thực sự bị mắc kẹt bởi vụ bắt giữ con tin. Cánh báo chí đã phỏng vấn và làm sáng tỏ tất cả mọi thứ mà người dân thực sự quan tâm, họ có mặt ở mọi nơi, điều đó đã gây được áp lực lên Nhà Trắng. Đó cũng là thời điểm mà tổng thống Carter đang xúc tiến cuộc vận động tái tranh cử, và chính điều đó đã giúp chúng tôi rất nhiều. Chính xác là vào buổi trưa ngày thứ Tư, Nhà trắng đã đưa ra tuyên bố rằng mọi người có thể tạm thời chuyển đi cho đến khi có nguồn tài chính đảm bảo cho việc tái định cư lâu dài. Bất cứ ai muốn đều sẽ được chuyển đi. 

Ngày 01 tháng 10 năm 1980 - Tổng thống Carter thăm Thác Niagara ký vào dự luật dành cho việc di chuyển vĩnh viễn cho 900 gia đình muốn rời đi. 
William Sanjour, một nhà quản lý của EPA và là người đồng hành cùng Lois Gibbs trong cuộc chiến công lý
GIBBS - Ngày hôm ấy, tôi đã có mặt trên bục sân khấu cùng với Carter khi ông ấy làm điều đó. Bởi khi đó, những người dân ở ngoài và một số nhóm hoạt động vì môi trường đang nỗ lực để đưa ra một bộ luật để giúp đỡ các cộng đồng giống như Love Canal. Tổng thống Carter đã nói rằng ông ấy sẽ cố gắng để dự luật (CERCLA – Superfund) được thông qua. Làm thế nào để giúp đỡ những người dân Love Canal? – Họ (người dân) sẽ có tiền để làm các xét nghiệm ngay lập tức, đồng thời dọn dẹp và di chuyển người dân cũng được tiến hành. Ông Tổng thống cũng hứa hẹn sẽ đấu tranh với những người gây ra hậu quả và yêu cầu họ phải chịu trách nhiệm về sau này, họ sẽ phải bồi thường, nếu như họ không trả tiền ngay thì họ sẽ phải đối mặt với những vụ kiện với hệ quả pháp lý lớn hơn. Chính những điều đó đã khiến các tập đoàn phải chú ý hơn. 

Khi rời khỏi sân khấu, tôi đã cảm thấy mọi thứ đều đang thực sự tốt, các cuộc khảo sát cũng đã được tiến hành tại các bang khác, và họ đã nói rằng có 50.000 địa điểm cũng có khả năng bị ô nhiễm. 

Và cuối cùng chúng ta cũng đã thấy rằng trong trường hợp này chế độ dân chủ ở Hoa Kỳ đã hoạt động hết sức hiệu quả. Những cư dân địa phương với một nền giáo dục hạn chế, hầu hết mọi người chỉ có học vấn trung học hoặc ít hơn, thu nhập chỉ từ 10.000 – 20.000 đô la/năm nhưng khi mà bạn biết rằng bạn đã đúng, và bạn đứng lên cùng với lòng kiên trì thì bạn sẽ thay đổi được nhiều thứ. Chính bạn sẽ là người tạo ra những cơ chế để đối phó với các vấn đề nghiêm trọng cũng như giải quyết các vấn đề cấp thiết của cộng đồng. 
BÀI HỌC TỪ LOVE CANAL 

Ngày nay, vụ việc ở Love Canal được nhìn nhận như một trường hợp điển hình về cách thức làm việc của các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ đối với công chúng. Mối quan hệ giữa hai bên bị đã bị xói mòn nghiêm trọng, khi mà các quan chức không thể hoặc sẽ không đưa ra những câu trả lời thẳng thắn với người dân của mình, qua đó đánh mất niềm tin giữa người dân đối với chính quyền. 

Trong suốt 30 năm, người dân vẫn chưa thể có một cơ quan chính phủ nào có khả năng quan tâm tới các vấn đề sức khỏe cộng đồng. Một phần của vấn đề nằm ở chỗ các phương tiện cơ bản cho nghiên cứu sức khỏe môi trường hầu như không thay đổi trong suốt khoảng thời gian đó. Dù các phương pháp phân tích để phát hiện các chất hoá học thấp đã được cải thiện thì các phương pháp tiếp cận chung để nghiên cứu điều tra y tế cộng đồng, dữ liệu đăng ký và các phân tích dịch tễ học cũng vẫn ở trong tình trạng tương tự. Thêm vào đó là việc thiếu ý chí chính trị cũng đã góp phần ngăn cản sự tiến bộ trong lĩnh vực này. 

Ngược lại, nhờ có sự tham gia của người dân, đã tác động rất nhiều trong quyết định của các cơ quan chính quyền. Kể từ sự việc ở Love Canal, các nhóm công dân trên khắp Hoa Kỳ đã tìm cách tác động nhiều hơncác quyết định có ảnh hưởng tới cuộc sống của họ. 

DI SẢN CỦA LOVE CANAL 

Cuộc khủng hoảng tại Love Canal đã thúc đẩy một số thay đổi ngay lập tức đối với nhận thức của Hoa Kỳ. Tại New York, hệ thống y tế nhà nước đã được cải thiện để tạo ra một cơ sở dữ liệu đăng ký các dị tật bẩm sinh. 

Đó cũng là tiền đề cho sự ra đời của đạo luật Superfund vào năm 1980 đồng thời với đó là một quỹ tín thác để chi trả cho các hoạt động dọn dẹp và khắc phục hậu quả đối với các địa điểm độc hại trong cả nước. Mặc dù ngân quỹ của nó đã sớm cạn kiệt trong một thời gian ngắn sau đó, tuy nhiên nó cũng đã tạo ra nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”. 

Đối với các nhà khoa học, họ tiếp tục nghiên cứu những tác động lâu dài đối vớisức khỏe khi tiếp xúc với hóa chất. Các chất gây rối loạn nội tiết (kể cả dioxin), vốn hầu như không được biết tới vào thời điểm năm 1978, hiện lại là một trong những chủ đề nóng nhất trong khoa học sức khỏe môi trường. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng, trong một số trường hợp, các hóa chất này có thể gây ra các hiệu ứng sinh sản mà di truyền qua nhiều thế hệ. 

Tuy nhiên, quan trọng nhất chính là việc Love Canal đã truyền cảm hứng cho một thế hệ các nhà hoạt động xã hội dân sự trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến cộng đồng. 

GIBBS - Love Canal là từ viết tắt của sự đau khổ và ngu dốt của con người. Những gì đã xảy ra tại Love Canal là một tượng đài của sự kiêu ngạo dựa trên niềm tin rằng chất độc có thể bị đổ xuống đất mà không có hậu quả đối với sức khoẻ và môi trường. 

Thật không may là tất cả mọi thứ được thực hiện tại Love Canal, từ các nghiên cứu sức khoẻ đến sơ tán, đều được thực hiện vì các lý do chính trị. Không có quyết định nào dựa trên bằng chứng khoa học. Chúng tôi thực sự đã tin rằng nếu không có cuộc đấu tranh của Hiệp hội chủ nhà Love Canal, không phải do các tổ chức công dân lớn mạnh, thì cho tới ngày hôm nay các gia đình vẫn sẽ phải sinh sống tại Love Canal, và các cơ quan y tế nói rằng không có vấn đề sức khỏe này xảy ra cả. 

Dường như các cơ quan chính quyền đang làm việc cho ngành công nghiệp hoá chất thay vì người dân. 

Thật buồn khi các giá trị đạo đức của các đại diện do người dân bầu ra lại chỉ áp dụng trong những hoàn cảnh nhất định và những vấn đề cụ thể. 

Nguồn: 

- http://www.nytimes.com/2013/11/25/booming/love-canal-and-its-mixed-legacy.html 


- http://chej.org/wp-content/uploads/Love-Canal-Factpack-PUB-001.pdf 


- http://library.buffalo.edu/specialcollections/lovecanal/about/chronology.php

- http://grist.org/justice/love-canal-the-toxic-suburb-that-helped-launch-the-modern-environmental-movement/

http://chej.org/publications/love-canal-a-chronology-of-events/

https://ourfuture.org/20170718/the-lessons-of-love-canal

https://networks.h-net.org/node/19397/reviews/169962/creager-newman-love-canal-toxic-history-colonial-times-present

http://chej.org/about-us/story/

https://www.bu.edu/lovecanal/canal/

https://archive.epa.gov/epa/aboutepa/love-canal-tragedy.html

-http://www.pbs.org/wnet/americanmasters/a-fierce-green-fire-love-canal-children-and-toxic-waste/2929/

http://www.momscleanairforce.org/lois-gibbs-interview/

- http://www.loe.org/shows/segments.html?programID=13-P13-00050&segmentID=7 


- https://www.independentsciencenews.org/health/how-the-once-tiny-waste-management-industry-captured-epa/

COMMENTS

Sự kiện XHDS$type=two$height=auto$meta=no$snippet=no$readmore=no

Name

“Cavegirl“,1,#EmbracingDiversity,1,#HRS,1,#LGBTIQAppreciation,2,#Macedonia,1,#savesondoong,1,#standwithyemen,1,#SukienTonVinhSuDaDang,1,#sutute,1,#xahoidansu,1,#xhds,114,30 under 30,1,350.org,1,6 mô hình XHDS,1,ACSC/APF,1,activism,1,ADB,1,Agnieszka Wiśniewska,1,Ai Cập,3,AICHR,1,AIESEC in NEU,1,AIR,1,Ambassador Ted Osius,2,Amnesty International,1,An Nhi,1,An Yên,2,Andrew Wells Dang,1,Angola,1,ảnh hưởng xhds,1,Aristotle,1,ASCS,1,ASEAN,1,ASEAN 2017,1,ấu dâm,1,Azerbaijan,1,Bắc Kinh,1,bản chất tư của hội đoàn dân sự,1,bản địa,1,bảo vệ cây xanh,1,bảo vệ môi trường,2,Baring Foundation,1,Barrow Cadbury Trust và Lankelly Chase,1,Basel Al Araj,1,BASF,1,Be happy,1,Bến Thủy,1,bệnh Down,1,bệnh IDD,1,Biện Kiều,1,Bình đẳng,1,bình đẳng giới,2,bộ máy,1,Bo Mønsted,1,Bộ tư pháp,1,bối cảnh,1,BOT,1,BOT Cai Lậy,1,Build A School Foundation,1,business,1,cải cách thủ tục hành chính,1,Cambodia,1,Campuchia,1,Cao Huy Thuần,1,Catherine Barnes,1,Câu chuyện nhà bếp,1,CECEM,1,CECODES,2,CEPEW,1,Chambers,1,chấn dân khí,1,chấn động trẻ,1,châu Á,1,CHEJ,1,chỉ số xã hội dân sự,1,Chinese NGo,1,chính sách,1,Chính sách công,1,chính trị,2,chọn sự tử tế,1,chủ nghĩa dân túy,1,chủ thể tri thức,1,chuẩn mực đạo đức,1,CIHRS,1,CISDOMA,1,Civicus,2,Civil society library,2,civil-society-library,11,Clean Clothes Campaign,1,CNN,1,cơ sở pháp lý,1,công dân,1,công dân và xã hội,4,cộng đồng,1,Công lý,2,công lý giới,1,công tác lý luận,1,Council for the Protection of Freedoms,1,CRWG,1,CSO,9,đặc ân,1,dân chủ,1,dân chủ hóa,1,dân sự,2,dân sự Ấn Độ,1,Đặng Ngọc Dinh,1,đánh giá không gian dân sự,2,ĐCSVN,1,ĐH Fulbright,1,dịch lao,1,Điểm nhấn Việt,20,điều tra,1,định kiến,1,định kiến giới,1,Đinh Trang,1,Đỗ Liên Quang,1,doanh nghiệp xã hội,2,độc lập tuyệt đối,1,đối lập,1,đời sống công,1,dự án Cuca,1,dự án sẵn sàng để thành công,1,dự luật lập Hội,1,EFD,1,Elizabeth Throssell,1,Én Xanh,1,Ethiopia,1,europarl,1,event,14,EVFTA,2,Facebook,1,Firuzeh Mahmoudi,1,Foreign NGO,1,Formosa,1,Freedom House,1,Friedrich Engels,4,Friends of the Earth,1,G20,1,Gamal Eid,1,Gender Equality and Women Empowerment,1,Ghana,1,gia đình,1,giá trị tích cực,1,giải trình,1,giám sát,3,giám sát thể chế,1,giám sát xã hội,2,giảng dạy nhân quyền,2,giáo dục,1,giáo dục khai phóng,1,giáo dục truyền thống,1,giáo dục tư nhân,1,Girls Not Brides,1,Góc ảnh Dân sự,6,GPAR,1,Greenpeace,1,Gs. Cao Huy Thuần,2,Hafez,1,Hạnh Nguyên,1,hậu dân sinh,1,hòa bình xanh,1,Hoàng Chí Phong,1,Hoàng Thị Minh Hồng,1,hoạt động nhân quyền,2,Hội đoàn dân sự,1,hội thảo,1,hội thảo thường niên,1,Hội thảo XHDS thường niên,1,Hồng Hạnh,1,Hồng Kông,1,hợp tác dân sự,1,HRS,1,Human rights,1,Human Rights First,1,Hungary,2,I&B,1,ICCPR,1,ICS,2,IDEO,1,Indonesia,1,iSEE,4,J. Trần Kiên,1,Jamiya,1,Jaya Luintel,1,Jean Louis Tauran,1,Jeff Kingston,1,Julia Unwin,1,Kazakhstan,1,Kendy,1,kết cấu XHDS,1,kết nối,1,khai dân trí,1,Khải Nguyên,1,khái niệm XHDS,5,khai thác mỏ,1,Khánh Trần,4,khoa học,1,không gian dân sự,3,Không gian Nhân quyền,2,không gian XHDS,1,khu vực tư nhân,1,khủng hoảng,1,Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát,1,kinh doanh giáo dục,1,kinh doanh nhân quyền,3,kinh doanh và nhân quyền,2,Kopsteins,1,KRG,1,Kỳ Anh,1,kỳ thị lao,1,La Nghi,2,làm chủ tập thể,1,lãnh đạo G20,1,Lê Kiên,1,Lê Kiều My,1,Le Nguyen Thien Huong,1,Lê Việt Anh,1,LGBT,2,lịch sử triết học,4,lịch sử XHDS,4,Liên bang Nga,1,Liên hiệp các hội KHKT Việt nam,1,Liên Hiệp Quốc,3,LIGHT,1,LIN,1,Lois Gibbs,3,Love Canal,2,luật,1,Luật NGO,1,Luật quản lý NGO,2,luật Shari'a,1,luật sư nhân quyền,1,Luật TCTT,1,Luật tiếp cận Thông tin,1,Luật về hội,1,mạch sinh,1,Mai Phạm,1,Malala Yousafzai,1,mạng lưới dân sự,1,Marina Jaber,1,Mặt trận,1,Maya Morsi,1,MEC,1,Mercy Corps,1,Mi An,1,Michael O'Flaherty,1,MICs,1,Miguel Ángel Ayoso Guixot,1,Mikhail Gorbachev,1,minh bạch,1,Minh Hạnh,1,Minh Trung,1,mô hình xhds,1,Mohamed Zaree,1,Mohanokor Radio,1,môi trường,1,môi trường chính sách,1,Monitor CIVICUS,1,Mỵ,1,Nabih al-Wahsh,1,NCDs-VN,1,NDI,1,Nga,1,ngày hội,2,Nghị quyết 32/2,1,Nghị quyết 37-NQ/TW,2,Nghiêm Hoa,3,NGO,5,Ngô Văn Giá,1,NGO-IC,1,Ngọc Khánh,1,Ngọc Lam,1,ngôn ngữ ký hiệu,1,NGOs,2,ngừng chỉ trích,1,Người đàn ông với móng tay đỏ,1,người hùng,1,người tỵ nạn,1,Người Việt Trẻ,10,nguồn lực xã hội,1,nguồn sống,1,Nguyên Bộ trưởng,1,Nguyễn Khắc Giang,1,Nguyễn Khánh Đạt,1,nguyên tắc không can thiệp,1,Nguyễn Thị Bình,1,Nguyễn Thị Nhung,1,Nguyễn Trọng Bình,1,nhà hoạt động,2,Nhà nước,3,Nhà Sàn Collective,1,nhân phẩm,1,nhân quyền,7,Nhân quyền ASEAN,1,nhân quyền mang màu sắc Trung Quốc,1,nhân quyền phổ quát,1,nhận thức xã hội,2,nhiệt điện than,1,nhóm nhân quyền,1,nhục mạ,1,Ni Lala,1,niềm tin,1,nữ lãnh đạo,2,NXB Hồng Đức,1,ô nhiễm dioxin,2,Obama,1,OHCHR,2,Oil4Food,1,Olesya Khalabuzar,1,OpenDemocracy,1,Opensociety Foundations,1,otofun,1,Oxfam,3,Oxford,1,Pakistan,1,Palestinia,1,Peacebuilders,1,PFLAG,1,PGS. TS Phạm Bích San,1,PGS. TS Phạm Quỳnh Phương,1,PGS. TS. Phạm Quý Thọ,1,Phạm Quang Huy,1,Phạm Thị Ngân,1,Phạm Thủy Tiên,1,Phạm Văn Đức,1,phản biện,2,Phan Chau Trinh Institute,1,pháp quyền,1,phát thanh độc lập,1,phát triển bền vững,2,phát triển xã hội,1,phi chính phủ,3,phi chính thức,1,Phó trưởng ban tuyên giáo,1,phòng chống tham nhũng,1,phong trào dù vàng,1,phụ nữ,1,Phương Uyên,3,PPWG,4,Putin,1,quan hệ xhds,1,quan liêu,1,quản lý tài nguyên,1,quản trị,1,Quote,15,quyền,1,quyền chính trị,1,quyền con người,4,quyền công dân,1,quyền dân sự,2,quyền giáo dục,2,quyền lực,2,quyền phụ nữ,1,quyền tiếp cận công lý,1,quyền tiếp cận thông tin,2,quyền trẻ em,5,quyền tự do chính trị,1,quyền tự do dân sự,1,quyền tự do internet,1,quyền tự do ngôn luận,5,RiM,1,robot Sophia,1,RSF,1,RTCCD,1,Rupert Colville,1,SA 8000:2014,1,Salil Shetty,1,Saudi Arabia,1,Save Son Doong,1,Save the Children,1,Say Samal,1,SDGs,1,Sexpress Offline,1,social movement,1,Sóng,1,SRD,2,Syria,1,TAC,1,Taliban,1,tăng cường năng lực,1,tảo hôn,1,Tây Nguyên,1,Tay Nguyen Youth Leadership Organization,1,TB stigma,1,TCXH,1,Telegram,1,Thái Hòa,1,Thái Thịnh,1,tham chính,1,thảm họa môi trường,2,Thanh Hồng,1,Thay đổi xã hội,2,The Cambodia Daily,1,Thế giới Dân sự,22,thông tin mật,1,Ths. Lê Quang Bình,2,Thư viện Dân sự,42,thực hành dân chủ,1,thực hành nhân quyền,1,thực thi,1,thủy điện,2,tiền nước ngoài,1,tiếp cận theo nhu cầu,1,tiếp cận theo quyền,1,tổ chức quần chúng công,1,tổ chức xã hội,1,tổ chức XHDS,2,Tò he,1,Tòa thánh,1,tôi tin tôi,1,tôn giáo,1,Tổng thống Sisi,1,Tổng thư ký Ban Ki-moon,1,Trách nhiệm,2,Trần Hữu Quang,1,Trần Sơn Lê,1,Trần Tuấn Phong,1,Tri thức,1,Trích dẫn Dân sự,2,triết lý phát triển,1,Trung Quốc,1,Trương Đình Tuyển,1,Trương Minh Quý,1,truyền thông dân sự,2,truyền thông tự do,1,truyền thông Việt,1,TS Nguyễn Đức Kiên,1,TS Nguyễn Thu Giang,1,TS Vũ Ngọc Hoàng,2,TS. Trần Tuấn,1,TSK,1,tự do,1,tự do biểu đạt,2,tự do họp hội,1,tự hào,1,từ thiện,1,tuổi trẻ,1,Tương Lai Xanh,1,Tương Lai Xanh Hà Nội,1,tương lai xhds,1,Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền,1,TYO,1,UN Guilding Principles on Business and Human Rights,1,UN vietnam,1,UNCAC,1,UNDP,2,ứng phó nhân đạo,1,unicef,1,United4Iran,1,UPR,1,Ủy ban cố vấn XHDS,1,Vaclav Havel,1,vai trò XHDS,1,vận động hành lang,1,văn hóa tranh luận,1,VCCI,1,vicongdong.vn,1,Viện chính sách công và pháp luật,1,viện trợ nhân đạo,1,viện trợ phát triển,1,Việt Nam,3,Vietnam highlights,2,Vietnamese young people,3,Vietpride,1,Viktor Orbán,1,Vinod Pavarala,1,Vladimir Putin,1,VNGO-FLEGT,1,vốn xã hội,1,VRN,1,VSEA,1,WarChild,1,we are people,1,WEQUAL,1,WiLDAF Ghana,1,William Sanjour,1,Wright,1,xã hội,2,xã hội công dân,1,xã hội dân sự,1,xã hội dân sự,57,xã hội dân sự Bỉ,1,xã hội dân sự việt nam,1,xã hội hóa,1,xahoidansu,1,xây trường,1,XHDS,15,xu hướng tình dục,1,xung đột,1,Yazda,1,Yazidi,1,Yemen,1,yếu tố XHDS,1,Youthquake,1,
ltr
item
Chuyên trang Xã hội dân sự: Lois Gibbs và hiệp hội chủ nhà Love Canal
Lois Gibbs và hiệp hội chủ nhà Love Canal
Lois Gibbs và hiệp hội chủ nhà Love Canal
https://3.bp.blogspot.com/-QbWxQzNOgPQ/Wq9zjg3H3LI/AAAAAAAABXc/yJCTnD38RCkTc_quVvy1nbFvpQHQRBwUACLcBGAs/s640/Lois_Gibbs_xahoidansu%2B%25281%2529.png
https://3.bp.blogspot.com/-QbWxQzNOgPQ/Wq9zjg3H3LI/AAAAAAAABXc/yJCTnD38RCkTc_quVvy1nbFvpQHQRBwUACLcBGAs/s72-c/Lois_Gibbs_xahoidansu%2B%25281%2529.png
Chuyên trang Xã hội dân sự
http://www.xahoidansu.org/2018/03/lois-gibbs-va-hiep-hoi-chu-nha-love.html
http://www.xahoidansu.org/
http://www.xahoidansu.org/
http://www.xahoidansu.org/2018/03/lois-gibbs-va-hiep-hoi-chu-nha-love.html
true
155898406536249487
UTF-8
Loaded All Posts Not found any posts VIEW ALL Readmore Reply Cancel reply Delete By Home PAGES POSTS View All RECOMMENDED FOR YOU LABEL ARCHIVE SEARCH ALL POSTS Not found any post match with your request Back Home Sunday Monday Tuesday Wednesday Thursday Friday Saturday Sun Mon Tue Wed Thu Fri Sat January February March April May June July August September October November December Jan Feb Mar Apr May Jun Jul Aug Sep Oct Nov Dec just now 1 minute ago $$1$$ minutes ago 1 hour ago $$1$$ hours ago Yesterday $$1$$ days ago $$1$$ weeks ago more than 5 weeks ago Followers Follow THIS CONTENT IS PREMIUM Please share to unlock Copy All Code Select All Code All codes were copied to your clipboard Can not copy the codes / texts, please press [CTRL]+[C] (or CMD+C with Mac) to copy